Chào mừng quý vị đến với .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Ca khúc và giai thoại

0041.gif
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Anh Khoa (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:07' 19-12-2013
Dung lượng: 309.4 KB
Số lượt tải: 0
Mô tả:
Nhạc Sĩ Nguyên Vũ

Nhạc Sĩ Nguyên Vũ

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.
Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, văn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.

Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp sử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âmca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.

Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.

Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có aitheo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.

Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích: “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.

Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó, “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.

Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe.“Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.

Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.

Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.

 

Ca khúc “Giáo Đường Im Bóng” và một chuyện tình đầy trắc trở

Tôi vẫn nghĩ tác giả của ca khúc Noel này phải là một người Công Giáo, nhưng không ngờ, nhạc sĩ là một người ngoại đang yêu một thiếu nữ Công Giáo xứ Thành Nam, Hà Nội. Chuyện tình của họ rất đẹp nhưng cũng thật gian nan trắc trở.

Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ

Người viết “Giáo Đường Im Bóng” ấy là nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ. Ông sinh năm 1921 tại Hà Nội, là một nhạc sĩ tiền chiến với 19 ca khúc, trong số đó có những ca khúc được nhiều người biết đến như “Giáo Đường Im Bóng” và “Qua Bến Năm Xưa” (VW 2011). Chẳng những thế, ông còn là người thầy uy tín của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Từ Linh (LH 2009).

“Giáo Đường Im Bóng,” một trong những tác phẩm Giáng Sinh mang chất tình ca đạo đời đầu tiên của Việt Nam những năm 30, ra đời trong giai đoạn tình yêu chín muồi giữa nhạc sĩ và cô Vũ Hà Tiên, một tình yêu đẹp như những bông hoa hồng nở đón chào mùa xuân, nhưng hồng cũng đầy những gai nhọn.

Cô Vũ Hà Tiên

Bình Nguyên Trang đã phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và ông kể lại: “Tôi gặp nàng trong một buổi biểu diễn từ thiện Hướng Đạo Sinh. Khi ấy tôi là nghệ sĩ chơi đàn guitar Hawaii, còn nàng thì hát rất hay. Tôi đàn nàng hát. Nhan sắc yêu kiều, quý phái của nàng đã khiến tôi bần thần vì xúc động. Ngay từ phút giây ấy tôi nhận ra mình đã yêu mất rồi” (BNT 2009). Sự hiền thục, có duyên và tài ca hát của cô Hà Tiên lúc đó, không chỉ làm cho nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ say đắm mà cả nhạc sĩ Lê Thương cũng thầm yêu cô, chính tình yêu ấy đã thôi thúc Lê Thương viết nên ca khúc Nàng Hà Tiên (TMP 2011).

Suốt thời gian yêu nhau, kể từ những ngày đầu thương trộm nhớ thầm cho đến lúc gia đình hai bên nhận ra tình yêu của họ, cả hai bắt đầu nếm trải những sóng gió của phận người. Và trong những giây phút đau khổ ấy, tác phẩm “Giáo Đường Im Bóng” đã ra đời. Một điều lý thú ở đây là “ngay cả khi bài hát ra đời và được các ca sĩ cùng thời hát ở một vài phòng trà Hà Nội, người con gái xứ đạo Thành Nam Vũ Hà Tiên vẫn không hề biết đó là bài hát dành tặng cho mình” (BNT 2009).

Ca từ của “Giáo Đường Im Bóng” đầy chất thơ, diễn tả tình yêu khắc khoải chờ đợi của một chàng trai yêu một cô gái Công Giáo. Những lời ấy không phải của nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, mà của nhà thơ Phi Tâm Yến, người bạn thân của ông.

“Nhớ tới đêm đầy ánh sáng
Hương trong gió tràn mênh mang
Giây phút như ngừng thôi trôi
Tiếng kinh muôn đời
Dáng xinh xinh bao tiên kiều
Quỳ ngân Thánh Kinh ban chiều
Trong giáo đường đêm Noel ấy
ngàn đời tôi mến yêu.”

Đọc ca từ của Phi Tâm Yến, chúng ta nhận ra ngay những khoảng khắc đã qua rồi và bây giờ đang sống lại trong tâm trí của nhạc sĩ. Sự lạc quan đầy sức sống của chàng trai đang yêu trong một đêm Noel đầy ánh sáng và hương gió, lấp ló đâu đó để nhìn cô Hà Tiên. Nàng thì quỳ trong nhà thờ cầu nguyện sốt sắng và đang nâng tâm hồn lên tới Chúa. Tôi không biết nhạc sĩ lúc đó đang đứng ở chỗ nào, nhưng chắc chắn ông sẽ chọn chỗ tốt nhất để có thể nhìn ngắm người mình yêu rõ nhất.

“Thánh giá xa vời lắm với chuông chiều ngân
Hồn thánh thót mưa dầm buồn tới âm thầm
Nơi giáo đường im bóng tôi thầm mong ngóng
Đắm đuối trên làn sóng mắt nàng huyền mơ.”

Tôi đọc đi đọc lại đoạn này nhiều lần để xem nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và nhà thơ Phi Tâm Yến muốn nói gì. Những lời này bộc lộ tình yêu của tác giả với tâm trạng buồn, nhưng không phải là thất vọng và đau khổ. Vậy thì hơi khó hiểu! Tôi google tìm thêm ca từ của ca khúc này để đọc xem có gì lạ. Ghé vào Diễn Đàn Hội Ngộ, tôi đã tìm được lời 2, mà theo tôi nó diễn tả rõ hơn tâm trạng của Nhạc sĩ.

“Tới chốn xưa nàng vắng bóng,
Tôi mơ mắt huyền nhung trông.
Bao phút vui thần tiên qua,
Thấy đâu bây giờ.
Lá êm rơi trên gương hồ,
Hình như mối duyên xa mờ.
Nay đến làm tôi xao xuyến,
Hồi đời tươi sáng êm.

Sóng rung rinh hồ xưa đây,
Hồn tôi nhớ nàng mê say.
Ngày xa ấy u trầm quá,
Và chóng qua.

Biết đến đâu tìm kiếm,
Nối dây tình duyên,
Và sóng mắt mơ huyền còn biết đâu tìm.
Tôi tiếc thời tươi sáng trôi cùng năm tháng.
Trí óc âm thầm nhớ mắt nàng huyền mơ.” (NTT 2011).

Ca từ mộc mạc, có nét đặc trưng của cách dùng tiếng Việt lúc bấy giờ, có thể hôm nay chúng ta ít sử dụng. Lời ca bộc lộ rõ sự thất vọng và trắc trở trong tình yêu của nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và cô Vũ Hà Tiên. Theo bạn, những thách đố trong tình yêu của họ là gì? Với tôi, thử thách lớn nhất khi hai người đến với nhau chính là quan niệm về người nghệ sĩ trong văn hóa Việt Nam lúc bấy giờ và nhất là cách trở về mặt tôn giáo.

Ở Việt Nam đời Vua Lê Thánh Tôn (TK 15) đã cấm những người nhạc sĩ và diễn viên không được tham gia các kỳ thi và làm quan trong triều, họ bị khinh rẻ bởi tầng lớp quý tộc. Chính vua Tự Đức (TK 19) cũng nói: “Xướng ca vô loài” để tỏ ý coi thường những người làm nghề ca hát, cái thứ “lẳng lơ, nghèo kiết xác.” Thời những năm 30 ở miền Bắc Việt Nam, quan niệm này vẫn không thay đổi bao nhiêu. Tôi nghĩ, gia đình cô Hà Tiên, một gia đình Công Giáo truyền thống, chắc chắn rất phân vân khi biết người yêu cô là một nhạc sĩ.

Cách trở về tôn giáo chính là nguyên nhân làm cho hai người đau khổ nhiều nhất. Những gia đình Công Giáo truyền thống thời đó hầu như không gả con hay cho lấy những người bên lương, và ngược lại, những gia đình Phật Giáo và văn hóa truyền thống cũng không muốn gả con hay cho lấy người Công Giáo. Tại sao lại có chuyện như thế?

Tôi bỏ qua vấn đề lịch sử phát triển khi đạo Công Giáo đặt chân đến Việt Nam và trải qua hơn 200 năm bắt đạo, khốc liệt nhất dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Tôi chỉ bàn tới cái nhìn của người bên lương mỗi khi cho con lấy người Công Giáo mà thôi. Họ cho rằng, cho con lấy người Công Giáo là coi như mất con vĩnh viễn, vì con họ sẽ bỏ đạo ông bà tổ tiên để trung thành theo Chúa và Giáo Hội. Gay gắt nhất là đối với những người con trưởng, có nhiệm vụ đại diện cho gia tộc cúng giỗ và nhang khói cho ông bà.

Với những người Công Giáo, vấn đề nghi thức tôn kính ông bà tổ tiên cũng là một vấn đề lớn được bàn cãi ở Rôma cả trăm năm. Phải nói là sau Công Đồng Vatican II (1965), Giáo Hội mới chính thức cho phép và công nhận việc tôn kính ông bà tổ tiên (Ancestor Veneration) là truyền thống văn hóa không chỉ riêng Việt Nam mà nhiều nước Á Châu nói chung và niềm tin nơi ông bà tổ tiên không có gì xung khắc với đức tin của người Công Giáo. Chính vì thế, hiện nay, hầu như gia đình Công Giáo Việt Nam nào cũng có bàn thờ ông bà tổ tiên.

Chúng ta cứ tưởng tượng xem gia đình cô Vũ Hà Tiên ở thời điểm đó, liệu cha mẹ cô cho phép cô lấy một người lương chăng? Rất khó xử cho gia đình và dòng tộc bởi người Công Giáo thấy rằng họ bị ràng buộc một cách sâu đậm với luật Giáo Hội. Cha mẹ phải có nhiệm vụ chăm sóc đức tin cho con cái từ tấm bé đến khi trưởng thành vào đời. Nếu con cái của họ sống đạo không tốt thì họ sẽ phải trả lời trước mặt Chúa về việc thiếu trách nhiệm trong bổn phận làm cha làm mẹ. Tôi nghĩ tới bốn giải pháp mà cha mẹ cô Hà Tiên có thể đã đặt ra.
- Ngăn không cho hai người lấy nhau là tốt nhất, giữ được truyền thống cho cả gia đình hai bên.
- Nếu muốn thành hôn, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ phải trở thành người Công Giáo. Điều này khả thi, ông chỉ cần học đạo và sẽ được rửa tội.
- Nếu lấy nhau mà đạo ai nấy giữ thì không thể được, vì luật Giáo Hội thời đó chưa cho chuẩn hôn nhân khác đạo.
- Nếu hai người bỏ nhà trốn đi một nơi nào đó để xây dựng tổ ấm, thì cha mẹ cô Hà Tiên và gia đình dòng họ chỉ còn nước lấy mo mà đeo vào mặt.

Người xưa thường nói: “Cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.” Chàng Tơ và nàng Tiên đã long đong lận đận suốt hơn 6 năm trường để vượt qua biết bao chông gai cách trở. Cuối cùng họ đã nên vợ nên chồng sau khi nhạc sĩ Nguyễn Thiên Tơ học giáo lý và được rửa tội. Tình yêu nồng nàn thắm thiết của họ đã làm cho Chúa động lòng. Ngài đã cho họ 8 người con và thêm một người con tinh thần rất nổi tiếng mà nhiều người Việt Nam biết đến, đó là “Giáo Đường Im Bóng.” Nhạc sĩ tâm sự: “Mỗi bài hát gắn với một kỷ niệm, mỗi bài hát có riêng một số phận… Tôi thấy có hai ca sĩ hát (Giáo Đường Im Bóng ) thành công nhất là Khánh Ly và Nga My. Khánh Ly hát như một bài hát trữ tình đượm thánh ca, còn Nga My thì lại hát như một bài thánh ca đượm chất trữ tình” (BNT 2009).


Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến