Chào mừng quý vị đến với .

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Góp nhặt Kiến thức >

Tham luận GIÁO DỤC CÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY.....

 dsc06300_500


Tham luận

GIÁO DỤC CÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY

 

 

I. Phần mở bài                                                                             trang  2…..

II. Nhận xét sách Giáo khoa hiện hành                                    trang  3-à4

  1. Về Phân phối chương trình và giảm tải.
  2. Về sách giáo khoa.

III. Thực trạng dạy và học Môn GDCD                                   trang  4 -à8

  1. Thực hiện giảm tải chuyển sang ngoại khóa
  2. Về các nội dung lồng ghép, tích hợp.
  3. Về từ ngữ trong nội dung truyền thụ
  4. Về cái nhìn của phụ huynh và xã hội môn GDCD
  5. Về thực trạng Giáo viên
  6.  Về phương tiện dạy học

           IV. Giải pháp                                                                               trang 8 -à10

  1. Đối với Giáo viên
  2. Đối với Học sinh
  3. Đối với Phụ huynh và đoàn thể -xã hội

           V. Đề xuất - kiến nghị                                                                 trang  11

 

 

Tư liệu tham khảo :

-         Sách Giáo khoa GDCD 6,7,8,9.

-         Công văn 5449/BGDĐT-GDTH về hướng dẫn thực hiện giảm tải.

-         Công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH năm học và lồng ghép tích hợp trong giảng dạy.

-         Chỉ thị 2737/CT-BGD&ĐT ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành.

-         Các thông tin liên quan trên mạng Internet.

 

 

 

 

Tham luận

GIÁO DỤC CÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY

 

I. Phần mở bài :

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng đổi mới toàn diện  do Đảng và Nhà nước ta đề xuất và lãnh đạo  thì nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỷ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”.

Để có nguồn lực con người chất lượng cao, rõ ràng là cần có sự chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng về mọi mặt, kèm theo đó là chiến lược và chính sách giáo dục - đào tạo đúng đắn, khoa học.

Trong số các môn học ở trường  phổ thông , môn giáo dục công dân (GDCD) có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, đây là môn học nhằm giáo dục, đào tạo cho đất nước những “công dân” hoàn thiện- toàn diện những chuẩn mực, những công dân có thể đảm đương trọng trách cao cả, gánh vác những nhiệm vụ khó khăn, nặng nề của Tổ quốc, của dân tộc trong tương lai. Nhiệm vụ cơ bản của môn học này là giáo dục một cách trực tiếp và toàn diện t­ư tưởng chính trị trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước ta hiện nay, cũng như trang bị những chuẩn mực đạo đức và pháp luật của xã hội hiện tại cho học sinh để sau khi tốt nghiệp THPT các em có thể thực sự thể hiện một cách tốt nhất tư cách công dân của mình.

Được sự quan tâm  với sự chỉ đạo đường hướng rõ ràng như thế nhưng thực chất trong thời gian qua vẫn còn những bất cập chưa hoàn thiện từ chương trình đến sách giáo khoa, từ thực trạng đội ngủ giáo viên đến phương pháp giảng dạy, từ đó bao nhiêu phán xét, luận tội đều đổ dồn lên bộ môn GDCD nào là đạo đức hs đi xuống do môn gdcd, nào là môn 3 K ( Khó, khô, khổ ), bạo lực học đường gia tăng cũng đổ lỗi do GV dạy GDCD không dạy các em về đạo đức,……..

Là một gv trực tiếp đứng giảng dạy nhiều năm bộ môn nầy, trong bài tham luận hôm nay tôi xin góp ý những vấn đề mà hiện thực cần nhận thấy và xin có sự chỉ đạo mới, thực sự hữu hiệu cho công tác giảng dạy bộ môn nầy.

II. Nhận xét chương trình và sách giáo khoa hiện hành:

Chương trình và sách giáo khoa bộ môn GDCD nói riêng đã được nhiều lần bổ sung, chỉnh sửa, nhưng vẫn còn chưa phù hợp, tôi xin trích dẫn 1 vài nhận định về chương trình và sách giáo khoa hiện nay :

a/ Về phân phối chương trình giảm tải :

Từ khi Bộ GD thực hiện giảm tải chương trình được đa số GV và học sinh tán thành vì thấy nội dung cần truyền thụ, nội dung cần phải học giảm nhẹ đi được phần nào . Công tâm mà nói về nội dung chương trình giáo dục ở nước ta thì…..rất nhiều quốc gia  trên thế giới đều công nhận nội dung thời lượng của chương trình GD ViệtNamquá nặng nề . Nhưng sự cắt giảm nầy theo thiển ý của cá nhân tôi và 1 số đồng nghiệp nhận định là chưa hợp lý, chưa có cơ sở thực tiễn . Có những bài nội dung nặng nề so với độ tuổi học sinh và so với thời lượng mà phân phối chương trình  thì lại không hề cắt giảm đi, ngược lại có những bài thật sự cần thiết để giáo dục thì lại cắt giảm.  Ví dụ cụ thể như  chương trình GDCD lớp7 cắt giảm bài 4 ( Đạo đức và Kỷ luật ) Ở lớp 8 giảm cả bài 7 ( Tích cực tham gia hoạt động chính trị xã hội ) ở chương trình lớp 9 giảm cả 2 bài 10 ( Lý tưởng sống của Thanh Niên ) và bài 11 ( Trách nhiệm của Thanh niên trong sự nghiệp CN hóa- HĐ hóa ) Cả 4 nội dung GD nầy rất hay, rất cần thiết cho HS, Phải chăng vì cắt giảm bài Đạo đức và kỷ luật nên tình trạng vi phạm đạo đức và vi phạm  kỷ luật ngày càng gia tăng từ hs khối 7. Phải chăng vì cắt giảm bài 7 nên các em hs không còn hăng hái tham gia hoạt động trường, hoạt động Đội, hoạt động nhân đạo, hoạt động bảo vệ môi trường.

Bao báo chí lên tiếng về bạo lực học đường, về thanh thiếu nhiên sa vào tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng….và khẳng định những em nầy đều thiếu lý tưởng, không có ước mơ hoài bảo về tương lai, thiếu trách nhiệm đối  với bản thân, với gia đình, với đất nước ………như thế tại sao lại cắt giảm tải bài 10 và 11 của chương trình GDCD 9?

Ngược lại những bài qua khô khan, không phù hợp độ tuổi nhận thức thì lại được giữ nguyên trong chương trình, cụ thể điển hình như những nhận định về sách giáo khoa như sau  :

b/ Về sách Giáo khoa :

Dẫn chứng lấn sân cả ở sách GK tiểu học cho ta thấy ,ở bậc tiểu học, mỗi năm HS có 14 bài học đạo đức. HS lớp 1, lớp 2 học đạo đức dưới dạng những câu hỏi tình huống. Những bài học đạo đức nầy sớm trở nên khô khan, già nua so với tuổi các em khi chương trình lớp 3 đã học bài “Đoàn kết thiếu nhi quốc tế”, HS lớp 5 học bài về “ Liên Hiệp Quốc”. Lên lớp 6 học về “Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở”.

Lớp 7, bài “Trung thực”, bài đọc trong sách giáo khoa viết về sự công minh và chính trực của một vĩ nhân ở Ý thời Phục hưng, người lớn cũng không nhớ nổi tên nhưng các em phải học. Tương tự ở bài “Tự trọng”, sách viết về một giáo viên người Anh ở tậnLondon. Phần “Pháp luật”, lớp 7, phải thấm nhuần vấn đề về “Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo”. Trong một tiết học, thầy cô phải truyền tải hết các vấn đề về: tình hình tôn giáo ở VN, chủ trương của Đảng, Nhà nước về tôn giáo.

Ở bài “Bộ máy nhà nước cấp cơ sở”, HS phải “căng đầu” nắm hết kiến thức về hệ thống bộ máy nhà nước từ Quốc hội, HĐND các cơ quan... cũng chỉ trong một tiết học. Phần bài tập, HS sẽ trả lời nội dung khi đăng ký tạm trú, kết hôn... phải đến những cơ quan nào! Đến bài “Quyền trẻ em”, nội dung mênh mông, khô cứng: từ vấn đề quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, xã hội với trẻ... cùng hàng loạt bài tập, bài đọc. Trong khi bao nhiêu câu chuyện hay, quyền trẻ em gần gũi học trò không hề có trong sách.

Bài “Liêm khiết”, sách giáo khoa GDCD lớp 8, có ba câu chuyện đọc viết về một nhà bác học người Pháp và một người Trung Quốc. Bài “Giữ chữ tín” kể một câu chuyện về một người thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bài “Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác”, sách nêu vấn đề vì sao nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và HS phải trả lời bài tập nêu lý do quan trọng nào giúp kinh tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ! Lên lớp 9, bài “Chí công vô tư”, học về quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế; thuốc lá, rượu, ôtô, hàng mã... và thuế suất phải đóng các mặt hàng này!

Hội thảo giáo dục đạo đức HS tại TP.HCM đã phản ánh thực tế: việc phân bố nội dung giáo dục đạo đức HS phổ thông không thể hiện được vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức. Chương trình GDCD dạy quá nhiều kiến thức nhưng theo nhận định của Sở GD-ĐT TP.HCM, kiến thức phân tán, thiếu tập trung, chưa tạo được những dấu ấn quan trọng lên học sinh.

         Sau 6 năm triển khai đại trà về đổi mới, SGK mới đã bộc lộ hạn chế: một số bài yêu cầu kiến thức nặng, dài dòng, ghi nhớ máy móc, chưa phù hợp với phần đông học sinh mà chỉ thích hợp với những em tự giác và học lực khá giỏi; khi viết sách, chưa chú ý đến điều kiện vùng miền, trình độ nhận thức của học sinh miền núi...

III. Thực trạng dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông :

Đạo Đức hay Giáo Dục Công Dân là những bộ môn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục nhân cách con người. Thông qua những kiến thức về quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật, những bài học ứng xử có văn hóa giữa người với người, các em học sinh sẽ rút ra được những bài học quý báu cho bản thân, vận dụng nó trong cuộc sống, hình thành thói quen và tạo nên nhân cách.Nhưng môn GDCD lại đứng trước một thực trạng như hiện nay:

a/ Thực hiện giảm tải chuyển sang đọc thêm hoặc ngoại khóa:

Ở các bài mà công văn hướng dẫn thực hiện giảm tải từng phần và cả bài chỉ nêu “ Chuyển sang đọc thêm “ ; “ Chuyển sang hoạt động ngoại khóa “.

Với sự hướng dẫn trên, GV chúng tôi lúng túng trong xử lý khi dạy tới bài nầy, ví dụ bài 11 lớp 9 “ Trách nhiệm của Thanh niên trong sự nghiệp CNH và HĐH đất nước “. Bài 2 tiết nầy khi chuyển sang đọc thêm chũng tôi sẽ làm thế nào ?Cho hs đọc thầm rồi gv giảng giải hay đọc cho lớp nghe rồi gv phân tích ? mục đích và chất lượng 2 tiết trên lớp đó được giám định như thế nào mới là đạt ?Và trong giáo án chúng tôi phải thể hiện như thế nào cho hợp lý ?

Đối với bài 10 lớp 9 : “ Lý tưởng sống của Thanh niên “ thực hiện giảm tải là chuyển toàn bộ nội dung 2 tiết của  bài nầy sang hoạt động ngoại khóa. Thực chất nếu  dạy bài nầy trên lớp  với mục đích  gd cho các em về lý tưởng , để hình thành ước mơ, hoài bảo thì dạy 2 tiết theo tôi thấy còn quá ít, quá hạn hẹp thời gian. Vậy mà bây giờ đưa sang hđ ngoại khóa thì sẽ xử lý như thế nào  để vừa phù hợp thời lượng 2 tiết mà vừa cho các em kiến thức cơ bản để các em có thể hình  thành cho mình 1 lý tưởng sống cao đẹp ?

Thực chất hoạt động ngoại khóa là tiết có qui định trong chương trình mà người thực hiện là tổng phụ trách Đội, tiết nầy đã có chương trình , thời gian cụ thể. Nếu GV GDCD thực hiện thì theo hình thức nào ? địa điểm nào ?

b/ Về các nội dung tích hợp :

Ở góc độ GD, tất cả chúng ta đều nhận thức môn GDCD phải dạy cho các em nền đạo đức cơ bản, kiến thức pháp luật và kỷ năng sống phải thật nhiều vì cái danh….GD càng nhiều thì càng toàn diện, dạy càng nhiều cái không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc… Do đó từ 4 năm nay, tất cả những vấn đề nóng bỏng của xã hội đều được ôm vào tích hợp trong bộ môn GDCD, mặc dù các nhà GD và dư luận báo chí đã lên tiếng cảnh báo nhưng …..ta chưa cách nào khắc phục, tách rồi những nội dung đó thành 1 môn riêng hay ..cắt bỏ nó đi. Tuy trên văn bản chỉ đạo có nói : tích hợp phải nhẹ nhàng, khéo léo, không làm nặng tải……. nhưng thiết nghĩ….mâu thuẩn quá không khi ta thêm vào mà không nặng hơn.

Các nội dung tích hợp, lồng ghép hiện nay : Về An toàn giao thông, về  Giáo dục dân số - sức khỏe - sinh sản vị thành niên; Giáo dục bảo vệ môi trường; Giáo dục kỹ năng sống; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em; Giáo dục phổ biển pháp luật, Giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, đảo

Ở cương vị 1 giáo viên dạy lớp Tôi không phê phán những nội dung mang kiến thức xã hội đưa vào giáo dục các em là 1 điều cần thiết. Mong muốn người hs mình dạy được trang bị càng nhiều kiến thức, kỹ năng là mong mỏi của tất cả giáo viên. Nhưng ở đây chúng ta xét kỹ lại về nội dung có ôm đồm, có bị bội thực hay không , có bị pha loãng hay không khi cố nhồi nhét nhiều kiến thức như thế vào 1 bộ môn?. Và chúng ta cũng xét mức độ tiếp thu của các em khi phải  bóp óc kết nối nhiều kiến thức như thế trong 1 tiết học. Bề trái hay phản diện của nhưng nội dung tích hợp nầy sự oằn vai gánh nặng của Thầy và trò trong việc thực hiện 1 tiết dạy và học, Thầy phải thay đổi giáo án, phải tìm thêm tư liệu, phải kết nối thành chuổi , phải linh động để không cháy giáo án, phải gò ép cho đủ thời gian mà bảo đảm đủ nội dung. Đôi lúc,những kiến thức liên hệ còn bị gò ép, miễn cưỡng thiếu phù hợp, có khi thiếu cả tính chân thực lịch sử. Những dẫn chứng liên hệ nhiều nhưng không tinh, không có tính điển hình phổ biến. Giáo viên ham kể, ham trưng những mẩu chuyện, những hình ảnh xa xôi lạ lẫm, xem thường bỏ qua những dẫn chứng gần gũi, thân quen giàu tính thực tế khiến tính thuyết phục bị mất đi nhiều.Bên cạnh đó,dẫn chứng liên hệ không được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, mang nặng tính minh họa chứ không phải tồn tại đúng theo nghĩa là một phương pháp giảng dạy. Đúng ra những dẫn chứng phải được sử dụng như một phương tiện trọng yếu để hướng học sinh tự mình đi đến nhận thức khái niệm một cách tự nhiên, sâu sắc thì ngược lại nhiều giáo viên chủ yếu lại dựa vào sách giáo khoa cho các em phát biểu nội dung khái niệm trong sách, sau đó mới giảng giải rồi cùng các em dẫn chứng liên hệ một cục. Dẫn chứng liên hệ được các giáo viên thông báo một cách khô khan đơn điệu, ít được sinh động hóa bằng hình ảnh cụ thể giàu tính thực tiễn và giáo dục; bằng những mẩu chuyện hấp dẫn với cách kể đầy sức lôi cuốn kèm theo những lời phân tích giảng giải ngắn gọn xúc động, khiến chúng có xác mà không có hồn. Học sinh ngồi nghe rồi lại quên ngay. Không một chút hưng phấn, không một sự tò mò nào thức dậy được trong các em thì làm sao những tiềm thức đạo đức công dân trong các em có thể được lóe sáng, được định hình. Còn nữa, dẫn chứng liên hệ thực tế chưa được chú ý khêu gợi, phát huy từ phía học sinh. Nhu cầu tự bộc lộ những chính kiến, suy nghĩ, băn khoăn, thắc mắc của các em hầu như mới được thực hiện một cách hạn chế. Các dẫn chứng liên hệ do vậy chưa phong phú đa dạng, chưa rộng, chưa sâu, chưa tạo được sự bất ngờ sinh động, sự rung cảm trong nhận thức về mối tương giao giữa lý thuyết và thực tế từ thẳm sâu tâm can học trò. Nói cách khác, trong trường hợp này vai trò chủ thể của việc liên hệ thức tế vẫn thuộc về các thầy cô chứ chưa phải các em. Cuối cùng, các dẫn chứng chưa được liên hệ trình bày với một tâm thế nồng cháy mà còn dừng ở mức thông báo lạnh lùng nên đã không tạo được chất men kích thích thuyết phục hưng phấn trong lòng học sinh. Những dẫn chứng đó có khi quá tải, có khi lại quá hữu khiến học sinh phần nào bối rối, lũng đoạn niềm tin trước thực tế cuộc sống đầy phức tạp đang hiện hình trong thế giới nhận thức còn chơi vơi của các em.

c/ Về từ ngữ trong nội dung truyền thụ :

Trong buổi tập huấn bồi dưỡng hè cho GV bộ môn GDCD ở Cần Thơ, đồng chí báo cáo viên được tập huấn ở Đà Nẵng về chỉ đạo cho GV chúng tôi là trong khi lên lớp dạy phần nội dung bài học, không được sử dụng từ Khái niệm, báo cáo viên đó khẳng định đây là chỉ đạo …miệng..của Bộ GD.  Vấn đề nầy làm chúng tôi vô cùng lúng túng, vì từ khi học sư phạm, ở các môn kể cả Triết học chúng tôi đều được khắc ghi : Muốn biết 1 vấn đề, muốn hiểu 1 việc, 1 phạm trù mới để phân tích và giải quyết vấn đề đó….việc đầu tiên là biết nó là gì thông qua lời giải thích dù ngắn hay dài, đó chính là khái niệm cơ bản vấn đề đó....... Thế mà bây giờ cấm không được dùng từ khái niệm ở phần mở đầu 1 bài mới vậy chúng tôi dùng từ gì cho chính xác ? Ví dụ dạy bài “ Siêng năng kiên trì “ ( lớp 6 ) bài “ Tự trọng” ( lớp 7 ) bài “ Liêm khiết “ ( lớp 8 ) …..Nếu đầu tiên không giải thích cho các em hiểu khái niệm thì làm sao giảng giải nhưng biểu hiện và cách thức rèn luyện phẩm chất đạo đức nầy ? Hiện nay chúng tôi phải dùng từ ….nghi vấn để cho hs ghi : - Thế nào là………..? hoặc ………………….là gì ?

Và sườn bài ghi trong trên bảng hoặc trong giáo án phải thay đổi : 1./ thế nào….? 2./ Biểu hiện hoặc nội dung và 3./ Rèn luyện… Thế có đổi mới sư phạn quá hay không ?

d/ Về cái nhìn của phụ huynh,học sinh và xã hội về môn GDCD:

Ở gia đình, không ít phụ huynh học sinh đã khuyên bảo các em là nên đầu tư vào các môn chính (Toán, Lý, Hoá,...) chứ không nên đầu tư nhiều vào các môn phụ (Công nghệ, GDCD...). Con cái vâng lời cha mẹ. Nhưng các bậc phụ huynh ấy có biết đâu rằng "vâng lời cha mẹ" là một phẩm chất đạo đức trong môn GDCD. Phải chăng đã có sự mâu thuẫn cần giải quyết!

Học sinh phải học theo quy định của chương trình, theo sự giảng dạy "gói gọn" của GV, vâng lời cha mẹ, vô tình các em đã xem môn GDCD là môn phụ. Khi được hỏi có "sợ" môn GDCD không thì các em bảo là không sợ vì nó là môn phụ, cứ học thuộc lòng vài dòng thầy cho ghi trong vở là có thể có điểm khá giỏi rồi. Từ suy nghĩ dẫn đến hành động không chú tâm đến môn GDCD, không chú tâm thì không hình thành được ý thức, thái độ ứng xử phù hợp. Vì vậy, việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật lại càng tiếp diễn.

e/ Về giáo viên :

Hiện nay, một số trường phổ thông, GV giảng dạy môn GDCD vẫn chưa được đào tạo đúng chuyên môn. Đặc biệt là ở bậc Trung học cơ sở, việc giảng dạy môn GDCD vẫn còn tình trạng GV các bộ môn khác (Văn, Sử, Địa, thậm chí cả giáo viên dạy Toán, Thể Dục,Ngoại Ngữ…) đảm nhiệm nên nhiều giáo viên còn giảng dạy môn này theo kiểu: “Qua loa chiếu lệ, Cưỡi ngựa xem hoa”.Đến tiết học,cho hs tự học,tự đọc sgk qua loa rồi ngồi chơi.Vì vậy, nhận thức của hs cũng xem nhẹ về môn học dạy làm người này.

Mặt khác, việc đào tạo của các trường ĐH còn nặng về lý thuyết nên các gv mới được đào tạo sau này cũng thiếu nhiệt huyết với gdcd.

Cái nhìn của phụ huynh, của xã hội là vậy nhưng một phần lớn cũng là lỗi tại ngay một bộ phận của gv chúng ta.

g/Về phương tiện dạy học:

Muốn chất lượng giảng dạy bộ môn GDCD đáp ứng đặc trưng giáo dục 1 con người toàn diện theo thời đại mới  thì không thể giảng dạy thuyết giảng khô khan như xưa. Có nhiều GV tốt nghiệp đại học sư phạm nhưng phần lớn giáo viên GDCD chỉ biết đến bảng đen và phấn trắng, thiếu hẳn sự hiểu biết cơ bản kỹ năng sư phạm và hầu như rất ít khi tiếp xúc với các phương tiện dạy học hiện đại. Nhiều giáo viên GDCD không có máy tính cá nhân, sử dụng máy tính không thành thạo. Nhiều người chưa hề sử dụng hoặc ít khi khai thác mạng internet phục vụ cho công tác giảng dạy (nhất là giáo viên vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi còn nhiều khó khăn). Nếu ai đó không tin những điều này là sự thật xin hãy dạo quanh một vòng các trường  và tham dự một số tiết học môn GDCD. Những đồ dùng dạy học (nếu có) vẫn chỉ là vài bức tranh ảnh, vài biểu đồ, mô hình, dụng cụ trực quan đơn giản, rẻ tiền. Phần lớn (nếu không nói là hầu như tất cả) những đồ dùng, dụng cụ dạy học này đều do giáo viên tự làm lấy (như thế cũng đã là những cố gắng hết sức lớn lao - trong bối cảnh đồng lương eo hẹp và giá cả tăng nhanh) cho nên chẳng có quy cũ và chuẩn mực nào cả. Có chăng là rẻ, tiện, dễ làm.

       Những thực trạng nầy xảy ra khắp nơi trên mọi miền đất nước ( tỉ lệ thành phố thấp hơn nông thôn ) nên trong tham luận nầy tôi xin không đề cập nhiều, tôi chỉ nêu thêm những hiện trạng xảy ra mà thực tế tôi đang giảng dạy gặp phải..

IV/ Giải pháp:

… Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy môn GDCD hiện nay, nhìn vào khung chương trình, phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức dạy học, theo bản thân tôi có một số giải pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy của thầy và kết quả học tập của trò :

a/Đối với giáo viên:

 Để đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy, ở mỗi tiết học giáo viên cần có cách thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với nội dung kiến thức, phương tiện dạy học và năng lực của học sinh. Người giáo viên cần phải tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học,gv phải là người thắp lửa cho hs để qua mỗi phần học, tiết học, học sinh nắm được kiến thức, có khả năng vận dụng kiến thức đã học trên lớp để xử lý các thông tin mà các em tiếp xúc hằng ngày.

- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
          - Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội dung bài học; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.

- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; hướng dẫn học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn;..
          - Không ngừng trao dồi về tri thức, kỹ năng giảng dạy, tích cực đổi mới các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS ; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.

- Vận dụng kiến thức của các môn học khác để giúp bài giảng sinh động, sâu sắc hơn đăc biệt là môn Ngữ văn, Lịch sử.

- Nên thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa gắn liền với nội dung bài học, các em được “ học mà chơi, chơi mà học” như: thực hiện trật tự an toàn giao thông, tôn sư trọng đạo, biết ơn, tiết kiệm, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên...những kiến thức bài học sẽ không còn khô khan đối với các em. Các em sẽ được trải nghiệm những tình huống mà mình có thể gặp trong cuộc sống, giúp các em khắc sâu kiến thức đã học, mở rộng và nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phú thêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể, tạo không khí vui tươi thoải mái, giữa thầy và trò gần gũi nhau hơn là điều kiện tốt để giáo dục đạo đức các em tốt hơn nhất là học sinh chưa ngoan.

            - Cho đến nay, phải nói rằng không một ai nghi ngờ về vai trò to lớn và những tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vực của đời sống. Trong giáo dục, việc ứng dụng CNTT trên thực tế cũng đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến lớn trong dạy học, nhất là về PPDH.

Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ. Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương tiện dạy học phù hợp và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp phần đổi mới PPDH bằng việc cung cấp cho giáo viên những phương tiện làm việc hiện đại. Từ những phương tiện này giáo viên có thể khai thác, sử dụng, cập nhật và trao đổi thông tin. Việc khai thác mạng giúp giáo viên tránh được tình trạng“dạy chay” một cách thiết thực đồng thời giúp giáo viên có thể cập nhật thông tin nhanh chóng và hiệu quả. Đây là một trong những yêu cầu đặc biệt cần thiết đối với giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD, bởi GDCD là một môn học rất nhạy bén đối với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế là một trong những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn.

Ứng dụng CNTT còn giúp giáo viên soạn thảo và ứng dụng các phần mềm dạy học có hiệu quả.

Tuy nhiên trong quá trình ứng dụng CNTT đổi mới PPDH điều cần lưu ý là việc ứng dụng CNTT vào dạy học cần kết hợp một cách hài hòa giữa ý tưởng thiết kế nội dung bài giảng và kĩ thuật vi tính. Một mặt phải bảo đảm đặc trưng bộ môn, chuyển tải được các đơn vị kiến thức cơ bản cần thiết, mặt khác phải bảo đảm tính thẩm mỹ, khoa học và thuận tiện trong việc sử dụng.

b/ Đối với học sinh:

- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.

- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.

- Phải xem đây là môn học có vị trí quan trọng trong việc hình thành nhân cách và kĩ năn sống cho mình trước cuộc sống đa dạng và phức tạp như hiện nay. Đạo đức là cái gốc ,cái cốt lõi trong một con người năng lực thì mới đóng góp hữu hiệu tài năng,kiến thức của mình cho xã hội.

- Năng động trong học tập,thảo luận,trao đổi để tìm ra con đường đi cho chính mình về rèn luyện nhân cách.

c/ Đối với phụ huynh và đoàn thể xã hội:

            - Trước hết, trong phụ huynh phải tránh cái nhìn lệch lạc về môn học này.Để có con người toàn diện không chỉ có các môn học tự nhiên là thành công.Phụ huynh đóng vai trò tích cực làm thay đổi nhận thức của con em mình.Đây là cái nhìn trì trệ làm lu mờ môn gdcd trong chính học sinh.

            - Phối hợp với các đoàn thể như Hội phụ huynh, Công đoàn, Đoàn Thanh niên,Đội Thiếu niên…cùng nhau có những chương trình hành động cụ thể, thiết thực gắn bó với môn học để phát huy giá trị của môn học trong hs thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, giáo dục hs chưa ngoan,các cuộc họp phụ huynh…để nhận ra giáo dục một hóc sinh đâu chỉ trách nhiệm của riêng ai.Sự phối hợp đồng bộ cũng là giá trị tinh thần giúp gv dạy mộ GDCD thấy được trọng trách, vai trò của mình trong công cuộc nâng cao đạo đức hiện nay cho hs khi mà xã hội đang gióng lên hồi chung báo động về sự xuống cấp đạo đức cua rthanh thiếu niên hiện nay.

V/ Đề xuất, kiến nghị:

- Tăng cường các lớp tập huấn, hội thảo về chuyên môn, kiểm tra, đánh giá đúng đắn về môn học làm người.

- Trang bị tủ sách pháp luật tại thư viện để học sinh có cơ hội tìm hiểu nắm bắt về các bộ luật của Nhà nước hiện nay.

- Tổ chức cho học sinh đi tham quan thực tế để mở rộng tầm hiểu biết,tăng kĩ năng sống cho các em,tạo hứng thú trong học tập.

- Cần đưa môn học vào như một môn chính,có tham gia vào kì thi xét tuyển cả cấp 2 và cấp 3 hay bậc Đại học để thay đổi cách nhìn của học sinh, phụ huynh và xã hội về môn học này.

            - Ban giám hiệu cần phân công đúng người,đúng việc,tránh “bù đắp”giờ thiếu trong tiêu chuẩn để phân công đại trà ,có kể hoạch kiểm tra,dự giờ và đánh giá đúng mực về vị trí của môn học.

            - Tăng cường thiết bị dạy học như tranh ảnh minh họa, phim tư liệu…tạo điều kiện tốt cho việc giảng dạy và học tập.

            - Khi toàn xã hội có cái nhìn thay đổi về môn học, chắc chắn việc nâng cao đạo đức của học sinh cũng có hiệu quả.

            - Sách giáo khoa cần thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội và phù hợp với từng cấp học vì việc giáo dục cũng đi từng cấp bậc để hình thành một thói quen tốt, một bệ phóng để khi các em ra trường được trang bị kĩ năng sống, vốn liếng nhân cách làm người. Điều đó, tránh được cái nhìn chỉ cần học các môn thi ĐH, hay các kì thi Tuyển sinh là đủ.

KẾT LUẬN :

Trên đây là những ý kiến đóng góp của cá nhân đúc kết từ trong thực tiễn giảng dạy do đó không thể tránh được sai sót hoặc phiến diện ở một góc độ địa phương hay cá nhân. Mong được sự góp ý của quí Thầy Cô.

Kính chúc sức khỏe quí Thầy Cô  trong sự nghiệp GD “ Vì lợi ích trăm năm trồng người” . Trân trọng kính chào.

                                                                   Cần Thơ . Ngày 9/1/2013

                                                                  GV. NGUYỄN NGỌC ANH KHOA



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Ngọc Anh Khoa @ 21:00 19/08/2013
Số lượt xem: 1007
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến